Quy trình hoạt động logistics vận tải đường sắt 

Quy trình hoạt động logistics vận tải đường sắt 

1. Điều kiện gửi hàng

  • Hàng hóa phải gửi theo lô. Lô hàng là tập hợp hàng hóa của một người gửi và chuyên chở theo một Giấy gửi hàng (Vận đơn đường sắt). Hàng chỉ được xếp vào một lô khi có cùng một người nhận, cùng một ga đi và địa điểm xếp, cùng một ga đến và địa điểm dỡ hàng, cùng một ga đi và địa điểm xếp, cùng một kỳ hạn chuyên chở và cùng một thời gian nhận hàng và không phải là những hàng hóa cấm xếp chung với nhau.
  • Nhà vận tải đường sắt nhận hàng để chuyên chở khi:

+ Hàng hóa không thuộc loại hàng cấm lưu thông;

+ Có thể xếp dỡ bằng những phương tiện mà đường sắt hiện có;

+ Chủ hàng phải thực hiện đầy đủ các thủ tục và các điều kiện quy định;

+ Nằm trong kế hoạch vận chuyển và phải ký hợp đồng vận chuyển với Liên hiệp đường sắt.

  • Những hàng hóa cần phải xin giấy phép vận chuyển của Tổng giám đốc Liên hiệp Đường sắt Việt Nam gồm có:

+ Gửi hàng theo phương pháp gửi hàng lẻ mà kiện hàng dài quá 3,5m, xếp trong xe có mui hoặc trọng lượng mỗi kiện trên 300 kg hay thể tích trên 2m2;

+ Hàng quá khổ, quá dài, quá nặng;

+ Toa xe, đầu máy tự chạy…;

+ Hàng nguy hiểm ngoài danh mục quy định

2. Trách nhiệm xếp dỡ hàng hóa

  • Hàng gửi lẻ: Đường sắt chịu trách nhiệm xếp dỡ hàng hóa tại tất cả các ga.
  • Hàng gửi nguyên toa: Đường sắt chịu trách nhiệm xếp dỡ hàng hóa ở những ga chính. Chủ hàng chịu trách nhiệm xếp dỡ hàng hóa ở các đường nhánh, đường dùng riêng và khi chuyển chở các loại hàng hóa như hàng nguy hiểm; hàng tươi sống, hàng dễ hư hỏng, hàng ướp lạnh… ; động vật sống, chất lỏng… ; hàng quá dài, quá nặng, quá cao, quá rộng; hàng phải xếp dỡ đặc biệt. Nếu chủ hàng không tự xếp dỡ được thì có thể thuê đường sắt xếp dỡ.

Khi xếp xong hàng, bên nào chịu trách nhiệm xếp dỡ phải đóng cửa toa xe, chằng buộc, gia cố, phủ bạt nếu cần, niêm phong, kẹp chì. Khi dỡ hàng từ toa xe xuống kho, bãi xong, phải quét dọn toa xe, đóng cửa toa xe, gấp bạt, thu dọn vật liệu gia cố, đảm bảo an toàn cho việc chạy tàu, Việc xếp, dỡ phải tiến hành liên tục suốt ngày đêm kể cả chủ nhật và ngày lễ, ở mọi điều kiện của thời tiết, Phải xếp, dỡ theo đúng kỹ thuật, theo lô, theo đúng ký mã hiệu và gia cố chắc chắn để đảm bảo vận chuyển hàng hóa an toàn.

3. Kỳ hạn chuyên chở

Sau khi nhận hàng để chở, đường sắt có trách nhiệm chuyên chở hàng hóa an toàn, nguyên vẹn và đúng kỳ hạn chuyên chở.

  • Kỳ hạn chuyên chở là khoảng thời gian mà đường sắt phải hoàn thành việc chuyên chở và được tính từ khi đường sắt nhận hàng để chở, giao bản sao giấy gửi hàng (vận đơn đường sắt) cho chủ hàng cho đến khi đường sắt thông báo hàng đến cho người nhận.
  • Kỳ hạn chuyên chở bao gồm:

+ Thời gian nhận và giao hàng tính chung là 2 ngày;

+ Thời gian hàng trên đường đi, được tính từ 0 giờ của ngày sau ngày nhận hàng để chở và theo tiêu chuẩn sau đây:

  • Nếu gửi hàng nguyên toa, chở nhanh thì cứ từ hoặc dưới 250 km được tính là một ngày;
  • Nếu gửi hàng nguyên toa, chở chậm hoặc gửi lẻ chở nhanh thì dưới 150km hoặc chưa đủ 150 km được tính là một ngày;
  • Nếu gửi lẻ chở chậm thì cứ 100 km hoặc chưa đủ 100 km được tính là một ngày;

+ Thời gian thực tế tàu phải đỗ lại để giải quyết các công việc hay do các nguyên nhân như nghẽn đường không do lỗi của đường sắt; kiểm dịch thực vật hay cho súc vật sống ăn uống; sửa chữa bao bì, xếp lại hàng hóa bị xô lệch.

  • Hàng được coi là chuyên chở đúng kỳ hạn nếu như ga đến báo tin hàng đến cho người nhận hàng trước hoặc đúng ngày cuối cùng của kỳ hạn chuyên chở, tính theo dấu bưu điện của ga đến. Nếu hàng hóa đến quá kỳ hạn chuyên chở, đường sắt phải chịu phát theo mức quy định

4. Giao hàng ở ga đến

  • Khi giao hàng ở ga đến, đường sắt có trách nhiệm thông báo hàng đến cho người nhận hàng theo đúng tên, địa chỉ ghi trên giấy gửi hàng. Việc báo tin hàng đến có thể thực hiện bằng điện thoại, điện tín, gửi thư qua bưu điện hay cử người báo trực tiếp. Nhận được thông báo hàng đến, người nhận hàng phải đến nhận hàng trong kỳ hạn lấy hàng quy định. Nếu qua kỳ hạn lấy hàng mà người nhận hàng chưa lấy hàng thì người nhận hàng phải chịu tiền bảo quản, đọng xe, lưu kho, lưu bãi.

Sau khi làm xong các thủ tục cần thiết, như thanh toán các khoản cước phí, tạp phí phát sinh, ký tên vào sổ sách giấy tờ của ga, đường sắt tiến hành giao hàng cho người nhận hàng.

  • Việc giao hàng ở ga đến phải đảm bảo nguyên tắc: đường sắt nhận của người gửi hàng theo phương thức nào thì phải giao cho người nhận hàng theo phương thức đó. Có các phương thức giao nhận dưới đây:

+ Giao nhận theo thể tích;

+ Giao nhận theo số lượng nguyên bao, nguyên kiện, nguyên bó; + Giao nhận theo khối lượng, dùng cẩu cân toa xe; + Giao nhận nguyên toa.

Hàng được coi là giao đủ nếu mức độ hao hụt về thể tích, khối lượng không vượt quá tỷ lệ cho phép hoặc bao, kiện không có dấu vết tháo, mở, hư hại hoặc dấu niêm phong của toa xe còn nguyên vẹn.

5. Trách nhiệm của đường sắt

  • Sau khi đã nhận hàng để chuyên chở, đường sắt có trách nhiệm chuyên chở hàng hóa đến ga và giao cho người nhận hàng đúng kỳ hạn, đầy đủ và nguyên vẹn. Đường sắt coi như đã nhận hàng để chở từ khi đường sắt nhận hàng, làm xong thủ tục và giao cho người gửi hàng bản sao giấy gửi hàng. Đường sắt được coi là đã giao hàng xong khi người nhận hàng ký vào sổ giao hàng, nhận giấy gửi hàng từ ga gửi hàng.
  • Trong quá trình chuyên chở, đường sắt phải chịu trách nhiệm về các vấn đề sau đây:

+ Không hoàn thành trách nhiệm chuyên chở đã thỏa thuận trong hợp đồng;

+ Tổn thất về hàng hóa trong quá trình chuyên chở: đường sắt phải bồi thường những mất mát, hư hỏng của hàng hóa nếu không chứng minh được là không do lỗi của đường sắt;

+ Hàng đến chậm: nếu chuyên chở hàng hóa đến quá kỳ hạn, đường sắt phải chiu một khoản tiền phạt là 1% tiền cước/ngày quá hạn nếu thời gian chậm trễ từ 10 ngày hoặc ít hơn và 2% tiền cước/ngày từ ngày thứ 11 trở đi.

  • Đường sắt được miễn trách nhiệm trong các trường hợp sau:

+ Do thiên tai, địch họa, trường hợp bất khả kháng;

+ Do hao hụt tự nhiên, bản chất của hàng hóa;

+ Hàng có người áp tải của chủ hàng;

+ Bao bì, đóng gói không thích hợp;

+ Khai sai tên hàng, trọng lượng;

+ Hàng do chủ hàng xếp hàng và niêm phong, khi đến ga đích, hàng bị tổn thất nhưng dấu niêm phong còn nguyên, toa xe hoặc công-ten-nơ không có dấu vết bị mở.

6. Khiếu nại đòi bồi thường

  1. Thủ tục khiếu nại:

Khi có mất mát, hư hỏng của hàng hóa hoặc chậm giao hàng, chủ hàng phải lập bộ hồ sơ để khiếu nại với đường sắt. Hồ sơ khiếu nại thường bao gồm các giấy tờ sau:

  • Đơn yêu cầu bồi thường, ghi rõ lý do và số tiền yêu cầu bồi thường;
  • Biên bản thương vụ: là biên bản do đường săt lập khi có tai nạn và có chữ ký của các bên liên qua;
  • Giấy gửi hàng hoặc bản sao giấy gửi hàng;
  • Biên bản giám định; – Chứng từ báo giá;
  • Biên lai thu cước, tạp phí (nếu đòi hoàn lại tiền cước hay tạp phí đã lạm thu). Thời hạn khiếu nại:

Hồ sơ khiếu nại phải được gửi đến đường sắt trong thời hạn:

  • 60 ngày để từ ngày hết hạn chuyên chở hoặc kể từ ngày đường sắt thông báo hàng mất, trong trường hợp hàng mất toàn bộ.
  • 30 ngày kể từ ngày giao hàng nếu hàng bị hư hỏng hoặc mất một phần;
  • 30 ngày kể từ ngày đường sắt báo tin hàng đến, nếu chuyên chở quá kỳ hạn; – 90 ngày kể từ ngày ghi trên biên lai thu cước, nếu đòi hoàn lại tiền cước

Đường sắt phải trả lời khiếu nại trong vòng 90 ngày, kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại.

Trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại hoặc kể từ ngày yêu cầu bồi thường không được giải quyết thóa đáng mà đường sắt không trả lời thì chỉ hàng có quyền khởi kiện ra tòa án.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *